Stress bài 6: Vì sao Walter Schmitt xếp bước đánh giá stress cảm xúc ở gần cuối protocol

Stress · Bài 6/18Trình độ: Chuyên sâuKhoảng 35 phút đọcMục lục loạt bài

Mục tiêu bài: Bạn sẽ biết bảng 32 bước QA chia thành mấy nhóm và bước cảm xúc nằm ở đâu, cơ chế Schmitt nêu cho từng lớp phải sửa trước (IRT, histamine, GABA và acid folic, tuyến ức và trung não, nội tiết và hai bán cầu, tập trung vào tim, ống tiêu hóa và đảo nghịch tâm lý), vì sao test cảm xúc làm quá sớm cho ra nhiều sự kiện dương tính cùng lúc, khi nào nên phá thứ tự, và một cách ghi mốc cảm xúc đầu buổi rồi kiểm lại dọc đường để tự thấy lớp nào đang nuôi nó.

Stress bài 6: Vì sao Walter Schmitt xếp bước đánh giá stress cảm xúc ở gần cuối protocol

Một tình huống hay gặp (minh họa, không phải ca thật): người bệnh than mất ngủ, hồi hộp. Chạm định vị (therapy localization, TL) vào điểm phản xạ cảm xúc trên hai ụ trán làm cơ chỉ thị (cơ dùng làm thước đo phản ứng khi test) yếu đi, nhắc tới chuyện công việc cơ cũng yếu. Người khám làm Emotional Recall Quick Fix (kỹ thuật gỡ ký ức gây stress bằng gõ huyệt trong lúc nhớ lại, xem Stress bài 4), cơ mạnh lại. Tuần sau người bệnh quay lại, điểm trán lại dương tính, lần này với chuyện gia đình, buổi sau nữa với chuyện tiền bạc. Cả hai bên bắt đầu tin phần tâm lý nặng hơn mình tưởng.

Hình 1. Điểm phản xạ cảm xúc (phản xạ thần kinh – mạch máu cảm xúc) ở hai ụ trán, nơi TL để thử cơ chỉ thị.
Hình 1. Điểm phản xạ cảm xúc (phản xạ thần kinh – mạch máu cảm xúc) ở hai ụ trán, nơi TL để thử cơ chỉ thị. Nguồn: Walther, Applied Kinesiology Synopsis, 2000, tr. 434, hình 10-2; chú thích Việt hóa.

Walter H. Schmitt, Jr., người xây protocol Quintessential Applications (QA), mô tả gần đúng kiểu ấy trong bài 35 trang "The Neurological Rationale for a Comprehensive Clinical Protocol Using Applied Kinesiology Techniques" (Kỷ yếu ICAK-USA 2005, tr. 157–191; đó là kỷ yếu hội nghị hằng năm của hội Applied Kinesiology (AK) quốc tế, chi hội Hoa Kỳ), và ông đọc nó theo hướng khác. Theo ông, làm kỹ thuật cảm xúc khi ống tiêu hóa chưa sửa thì kết quả dễ tái, và các sự kiện dương tính thật ra chung một mạch tiêu hóa (tr. 183). Ông còn ghi từ kinh nghiệm: ghi lại một mẫu yếu cơ do gợi nhớ cảm xúc trước khi chạy protocol rồi kiểm lại dọc đường, thì tác dụng làm yếu ấy thường tự mất ở một chỗ nào đó giữa chừng, trước khi tới bước cảm xúc (tr. 184). Trong protocol 32 bước ông soạn cùng Kerry McCord, đồng tác giả sổ tay QA, phần cảm xúc vì thế nằm ở bước 24.

Chính Schmitt không bắt đầu ở đó. Năm 1996 ông đặt cửa cảm xúc ở bước 4, ngay sau chấn thương và nội tiết, và viết rằng nó phải được sửa trước, nếu không các chỉnh khác sẽ bị xóa khi người bệnh đứng dậy hoặc có thêm một ý nghĩ căng thẳng (Kỷ yếu 1996–1997, tr. 86).

Mọi cách đọc test cơ dưới đây đều đi sau việc hỏi bệnh, khám và xét nghiệm để loại trừ bệnh thực thể cùng những tình trạng tâm thần cần chuyên khoa.

Trong bài này

  • Từ bước 4 năm 1996 tới bước 24 năm 2005
  • Bảy lớp nằm trước bước 24
  • Làm phần cảm xúc quá sớm: ba kiểu kết quả sai
  • Khi cảm xúc mới là lớp phải sửa trước
  • Thứ tự của các tác giả, đặt cạnh nhau
  • Đưa vào buổi khám: ghi mốc rồi kiểm lại dọc đường
  • Mức bằng chứng và những điều bài gốc không cho biết
  • Khi nào cần đi khám chuyên khoa

Bài có 1 hình kỹ thuật cắt từ sách, kỷ yếu gốc (chú thích Việt hóa), 2 sơ đồ quy trình và 3 bảng.

Tóm tắt trên bàn khám

Điều thấyNghĩ tớiNguồn
Điểm trán dương tính ở đầu buổiGhi mốc, chưa chữa; kiểm lại sau từng nhómSchmitt 2005, tr. 184
Nhiều ký ức khác nhau cùng làm yếu cơMạch dạ dày, ruột non, đảo nghịch tâm lýSchmitt 2005, tr. 183
Lo âu, Quick Fix chỉ giữ được ngắnGABA, chu trình acid citric, amoniacSchmitt 2005, tr. 165, 173–174
Trầm buồn, phản ứng dị ứng rõHistamine, B6, acid folicSchmitt 2005, tr. 164–165, 174
Tuyệt vọng, dễ bật khóc khi chữaPhản xạ Chapman tuyến ức, trung nãoSchmitt 2005, tr. 171
Đáp ứng khác nhau khi ngân nga và khi đếm sốSteroid (não phải), tuyến giáp (não trái)Schmitt 2005, tr. 176
Người bệnh đã tập tập trung vào tim ở nhàKiểm nội tiết, tiêu hóa trước khi làm lại ở phòng khámSchmitt 2005, tr. 175
Cơ nào cũng mạnhTìm nguồn tăng thuận lợi toàn thân, kể cả cảm xúc – giao cảmSchmitt 2005, tr. 159; Garten 2016, tr. 23
Khổ sở cấp tính sau đau nặngLàm phần cảm xúc ngay trong buổiMcCord 2005, tr. 109
Mẫu cảm xúc mới lộ ra sau khi chỉnh dinh dưỡngLớp tiếp theo, kiểm lạiMiller 2021–2022, tr. 22

Phần còn lại của bài dành cho hội viên Câu lạc bộ AKNU

Mỗi tháng 2 bài chuyên sâu cho bác sĩ và trị liệu viên, tổng hợp từ kỷ yếu ICAK và kinh nghiệm lâm sàng, cùng buổi hỏi đáp trực tuyến định kỳ.

Tìm hiểu Câu lạc bộ AKNU

3 ý chính

  1. Schmitt (2005) viết rằng nếu ghi lại một mẫu yếu cơ do gợi nhớ cảm xúc trước khi chạy protocol rồi kiểm lại dọc đường, tác dụng làm yếu ấy thường tự mất ở đâu đó giữa chừng; vì vậy phần cảm xúc đặt ở bước 24/32, trừ hoạt động tập trung vào tim ở bước 13.
  2. Theo ông, làm kỹ thuật cảm xúc khi ống tiêu hóa chưa sửa, khi hai bán cầu còn lệch hay khi thiếu dinh dưỡng cho chất dẫn truyền thần kinh thì dễ tái, và hay ra nhiều sự kiện cảm xúc dương tính cùng thuộc một mạch tiêu hóa, khiến cả bác sĩ lẫn người bệnh tưởng phần cảm xúc nặng hơn thực tế.
  3. Thứ tự này đến từ quan sát lâm sàng của tác giả, chưa có nghiên cứu nào so các thứ tự khám với nhau; chính QA cho đưa phần cảm xúc lên sớm khi stress cảm xúc là yếu tố chính, và Garten (2016) sàng lọc điểm cảm xúc ngay từ những buổi đầu khi nhiều cơ tăng phản ứng.
Lưu ý: Bài viết nhằm mục đích chia sẻ kiến thức chuyên môn và giáo dục, không thay thế cho việc thăm khám và chỉ định của bác sĩ. Không tự ý dùng thuốc, thực phẩm bổ sung hay áp dụng kỹ thuật điều trị khi chưa được đánh giá trực tiếp. Cần khám: Phòng khám Đông y Tâm Đức, 117/23A Nguyễn Hữu Cảnh, P. Thạnh Mỹ Tây, TP.HCM, điện thoại 0345 22 33 19 (xem trang Liên hệ).

Loạt bài: Applied Kinesiology và Stress

  1. Bài 1: Bộ Ba Sức Khỏe (Triad of Health) và lý do stress chưa bao giờ chỉ là chuyện tâm lý
  2. Bài 2: Hội chứng thích nghi chung của Selye từ báo động đến kiệt sức dưới góc nhìn Applied Kinesiology
  3. Bài 3: Receptor stress vùng sọ và kỹ thuật Hint kinh điển để tắt phản xạ báo động
  4. Bài 4: Emotional Recall Quick Fix nâng cao, dùng các kênh giác quan để giải phóng ký ức gây stress
  5. Bài 5: Điểm kích hoạt cảm xúc, phát hiện mới về đau do hệ viền (2025) Hội viên
  6. Bài 6: Vì sao Walter Schmitt xếp bước đánh giá stress cảm xúc ở gần cuối protocol (bạn đang đọc)
  7. Bài 7: P-DTR, nhân cạnh não thất và trục HPA khi một vấn đề cấu trúc giả làm mất cân bằng hóa học Hội viên
  8. Bài 8: Tiếng ồn, yếu tố gây stress bị lãng quên Hội viên
  9. Bài 9: Stress điện từ (EMF) thời đại số, đánh giá và cân bằng bằng AK Hội viên (đăng ngày 01/11)
  10. Bài 10: Một ca đau kiểu thần kinh tọa do rối loạn stress tuyến thượng thận Hội viên (đăng ngày 01/12)
  11. Bài 11: Đảo nghịch tâm lý (Psychological Reversal), khi một phản xạ vô thức chặn đường điều trị Hội viên (đăng ngày 01/01)
  12. Bài 12: Ca bệnh hoảng loạn sân khấu lần ngược về một ký ức năm 7 tuổi Hội viên (đăng ngày 01/02)
  13. Bài 13: Thách thức thở của Eugene Charles, dùng test cơ tìm nhịp thở tối ưu cho từng người Hội viên (đăng ngày 01/03)
  14. Bài 14: Tinh dầu và bản đồ cảm xúc, khi khứu giác mở cửa vào hệ viền Hội viên (đăng ngày 01/04)
  15. Bài 15: Dây thần kinh phế vị, cái phanh của phản ứng stress, và cách AK tiếp cận nó Hội viên (đăng ngày 01/05)
  16. Bài 16: Beyond Emotional Quick Fix, nghe lại tiếng tim mình và xử lý cảm xúc không cần lời Hội viên (đăng ngày 01/06)
  17. Bài 17: Phương trình cảm xúc của Keschner, từ xóa stress sang nâng mức ý thức Hội viên (đăng ngày 01/07)
  18. Bài 18: Cơ thể nhớ lại tư thế lúc chấn thương và hai kỹ thuật xử lý dấu ấn trauma Hội viên (đăng ngày 01/08)
BS. Đinh Ngọc Đức

BS. Đinh Ngọc Đức

Thạc sĩ Y học cổ truyền, 15 năm điều trị và giảng dạy. Giảng viên Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh (2016–2021). Bác sĩ phụ trách chuyên môn Phòng khám Đông y Tâm Đức, người sáng lập AK and You.

Về tác giả · Khóa học Applied Kinesiology

Chuyển lên trên
Bài dành cho hội viên Câu lạc bộ AKNU, không in hoặc lưu thành tệp.